Bước tới nội dung

Rassvet (module ISS)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Rassvet
Rassvet nhìn từ module Cupola trong nhiệm vụ STS-132 với tàu vận tải Progress día dưới bên phải
Số liệu module
Một phần củaTrạm Vũ trụ Quốc tế
Ngày phóng14 tháng 5 năm 2010, 18:20:09 UTC
Phương tiện mangTàu con thoi Atlantis
Neo18 tháng 5 năm 2010, 12:20 UTC (Zarya nadir)
Khối lượng5.075 kg (11.188 lb)
Chiều dài6 m (20 ft)
Đường kính2,35 m (7 ft 9 in)
Thể tích điều ápTotal: 17,4 m3 (610 ft khối)
Pressurised: 5,85 m3 (207 ft khối)
Tham khảo: [1]

Rassvet (tiếng Nga: Рассвет, n.đ. 'ánh sáng đầu tiên'), còn được biết đến với tên gọi Module Nghiên cứu Nhỏ 1- Mini-Research Module 1 (MRM 1, tiếng Nga: Малый исследовательский модуль 1) và từng viết đến với tên gọi Module Ghép nối Hàng hóa- Docking Cargo Module,là một module của Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS). Thiết kế của module này tương tự module ghép nối của trạm Mir được phóng trên sứ mệnh STS-74 năm 1995. Rassvet được sử dụng chủ yếu để lưu trữ hàng hóa và làm cổng ghép cho các tàu vũ trụ đến thăm. Nó được chở lên ISS bằng Tàu con thoi Atlantis trong nhiệm vụ STS-132 vào ngày 14 tháng 5 năm 2010,[2] và được nối với ISS ngày 18 tháng 5 năm 2010.[3] Cửa nối giữa Rassvet và ISS lần đầu được mở ngày 20 tháng 5 năm 2010[4] Ngày 28 tháng 6 năm 2010, tàu Soyuz TMA-19 là tàu đầu tiên ghép vào module này.[5]

Chi tiết

[sửa | sửa mã nguồn]
Rassvet trước khi được đưa lên tàu con thoi tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy
Một góc nhìn bên trong Rassvet

Rassvet được lắp vào cổng nadir (hướng Trái Đất) của module Zarya với sự trợ giúp của Canadarm2.[6] Bên ngoài Rassvet còn mang theo các thiết bị trang bị cho module chuẩn bị được phóng trong tương lai là Nauka (Multipurpose Laboratory Module-Upgrade). Các thiết bị này bao gồm: một khớp khuỷu dự phòng cho European Robotic Arm (ERA), một trạm làm việc di động của ERA dùng trong các chuyến đi bộ ngoài không gian (EVA), một bộ tản nhiệt nhiệt, phần cứng bên trong, và buồng khóa khí thí nghiệm của Nauka để phóng cubesats. Việc đưa Rassvet lên quỹ đạo theo cách này cho phép NASA thực hiện cam kết vận chuyển 1.400 kilôgam (3.100 lb) thiết bị trang bị cho Nauka mà không cần thêm một chuyến bay riêng.[7]

Rassvet có hai cổng ghép: một cổng để gắn vào cổng nadir của module Zarya, và một cổng để tàu Soyuz hoặc Progress ghép vào. Module này đảm nhận vai trò của như là module ghép nối và hàng hóa trong thiết kế ban đầu của ISS. Khi công bố kế hoạch cho Rassvet, phía Nga đồng thời tuyên bố hủy module Russian Research Module thứ hai trong kế hoạch.

Kế hoạch ban đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong kế hoạch ban đầu của ISS có một module Nga gọi là Docking and Storage Module (DSM). Module này dự kiến cung cấp không gian lưu trữ và thêm một cổng ghép; nó sẽ được phóng lên trạm bằng tên lửa Proton và gắn vào cổng nadir của Zarya. Kích thước và hình dạng của DSM được thiết kế tương tự Zarya.

DSM bị hủy do hạn chế ngân sách phía Nga trong một thời gian, nhưng sau đó thiết kế được sửa đổi thành Docking and Cargo Module (Rassvet), vẫn gắn vào vị trí tương tự trên Zarya và cung cấp cả không gian chứa đồ lẫn một cổng ghép. Trong thời gian DSM bị hủy, từng có đề xuất gắn một Multi-Purpose Module (MPM) có tên Enterprise vào Zarya; sau đó module Nauka cũng từng được đề nghị đặt ở vị trí này. Tuy nhiên, module Enterprise đã bị hủy, còn Nauka cuối cùng được ghép vào cổng nadir của Zvezda thay vì Zarya.

Mục đích

[sửa | sửa mã nguồn]

Rassvet được thiết kế như một giải pháp cho hai vấn đề mà các đối tác ISS đang gặp phải:

  • NASA đã cam kết vận chuyển thiết bị trang bị cho Nauka outfitting equipment into space.[7]
  • Việc các tàu Progress, Soyuz, và ATV bay chồng nhiệm vụ làm nổi rõ nhu cầu phải có bốn cổng ghép thuộc phân đoạn Nga trên ISS. Việc hủy cả hai module Russian Research Module khiến sau khi lắp module Leonardo năm 2011, ISS sẽ chỉ còn ba cổng ghép kiểu Nga, và cổng nadir của Zarya sẽ không thể dùng được nữa.

Rassvet giải quyết được cả hai vấn đề này. NASA không cần thêm một chuyến bay riêng chỉ để mang thiết bị cho Nauka, vì có thể gắn luôn phần cứng đó bên ngoài Rassvet.

Về phía Nga, ISS hiện có bốn cổng ghép trong phân đoạn Nga: cổng aft của Zvezda, cổng của Pirs, về sau là Nauka (tại cổng nadir của Zvezda), cổng của Poisk (tại cổng zenith của Zvezda), và cổng trên Rassvet (tại cổng nadir của Zarya). Nhờ có Rassvet, việc Nga hủy các module Research Module trở nên ít ảnh hưởng hơn đến tổng thể chương trình ISS.

Thiết kế và chế tạo

[sửa | sửa mã nguồn]
Buồng khóa khí thí nghiệm của module Nauka được gắn lên Rassvet để phóng
Tàu Soyuz TMA-19 ghép vào Rassvet
Phân đoạn Nga của ISS nhìn từ tàu STS-135 rời trạm tháng 7 năm 2011: (theo chiều kim đồng hồ từ trái) một tàu hàng Progress, hai tàu có người lái Soyuz và một tàu Progress khác đang ghép. Nhìn từ mạn phải sang mạn trái, với zenith quay lên trên, có thể thấy Rassvet gắn vào nadir của Zarya.

Module Rassvet được thiết kế và chế tạo bởi Energia, dựa trên vỏ áp suất đã làm sẵn dùng làm mô hình thử động lực của Science Power Platform (một module đã bị hủy).[8]

Ngày 17 tháng 12 năm 2009, một chiếc Antonov An-124 chở module Rassvet và thiết bị mặt đất đi kèm đã hạ cánh tại Trung tâm Vũ trụ Kennedy ở Florida.[9] Sau khi dỡ hàng, các thiết bị được chuyển đến cơ sở tiền phóng do Astrotech vận hành. Các kỹ sư và kỹ thuật viên của Energia tiếp tục thực hiện các quy trình tiền phóng tại đây, bao gồm: thử điện độc lập, thử kín của module và buồng khóa, chuẩn bị lắp đặt buồng khóa và bộ trao đổi nhiệt bức xạ lên Rassvet. Module được chuyển sang Space Station Processing Facility của NASA ngày 2 tháng 4 năm 2010. Sau khi hoàn tất các công đoạn cuối, nó được đặt vào xe vận chuyển hàng cho tàu con thoi ngày 5 tháng 4 năm 2010. Thùng hàng chứa module Rassvet đến bệ phóng LC-39A ngày 15 tháng 4 năm 2010.[10]

Trong quá trình chuẩn bị Tàu con thoi Atlantis tại bệ phóng 39A, các kỹ sư nhận thấy lớp sơn trên bề mặt Rassvet bị bong tróc. Dù vấn đề này được kết luận không ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của module, nó vẫn được đánh giá là tiềm ẩn nguy cơ tạo mảnh vụn trên quỹ đạo.[11]

Các tàu vũ trụ đã ghép nối

[sửa | sửa mã nguồn]

Rassvet được kết nối với cổng nadir của Zarya vào ngày 18 tháng 5 năm 2010.[3]

Tàu vũ trụGhép nối (UTC)Tháo rời (UTC)
Soyuz TMA-1928 tháng 6 năm 2010, 03:3826 tháng 11 năm 2010, 01:23
Soyuz TMA-2017 tháng 12 năm 2010, 20:1223 tháng 5 năm 2011, 21:35
Soyuz TMA-02M9 tháng 6 năm 2011, 21:1821 tháng 11 năm 2011, 23:00
Soyuz TMA-03M23 tháng 12 năm 2011, 15:191 tháng 7 năm 2012, 04:48
Soyuz TMA-05M17 tháng 7 năm 2012, 04:5118 tháng 11 năm 2012, 22:26
Soyuz TMA-07M21 tháng 12 năm 2012, 14:0913 tháng 5 năm 2013, 23:08
Soyuz TMA-09M29 tháng 5 năm 2013, 02:1010 tháng 11 năm 2013, 23:26
Soyuz TMA-11M7 tháng 11 năm 2013, 10:2713 tháng 5 năm 2014, 22:36
Soyuz TMA-13M29 tháng 5 năm 2014, 19:5710 tháng 11 năm 2014, 00:31
Soyuz TMA-15M23 tháng 11 năm 2014, 01:0111 tháng 6 năm 2015, 10:20
Soyuz TMA-17M23 tháng 7 năm 2015, 02:4511 tháng 12 năm 2015, 09:49
Soyuz TMA-19M15 tháng 12 năm 2015, 17:3318 tháng 6 năm 2016, 05:52
Soyuz MS-019 tháng 7 năm 2016, 04:12[12]30 tháng 10 năm 2016, 03:58[13]
Soyuz MS-0319 tháng 11 năm 2016, 21:582 tháng 6 năm 2017, 10:47
Soyuz MS-0528 tháng 7 năm 2017, 21:54[14]14 tháng 12 năm 2017, 05:14[14]
Soyuz MS-0719 tháng 12 năm 2017, 08:393 tháng 6 năm 2018, 09:16
Soyuz MS-098 tháng 6 năm 2018, 13:0120 tháng 12 năm 2018, 01:42
Soyuz MS-1215 tháng 4 năm 2019, 01:0103 tháng 10 năm 2019, 07:37
Soyuz MS-1714 tháng 10 năm 2020, 08:4819 tháng 4 năm 2021, 16:38
Soyuz MS-189 tháng 4 năm 2021, 11:5528 tháng 9 năm 2021, 12:21
Soyuz MS-195 tháng 10 năm 2021, 12:2230 tháng 4 năm 2022, 07:21:11
Soyuz MS-2221 tháng 9 năm 2022, 17:0628 tháng 4 năm 2023, 9:57
Soyuz MS-2415 tháng 9 năm 2023, 18:536 tháng 4 năm 2024, 03:54
Soyuz MS-2611 tháng 9 năm 2024, 19:3219 tháng 4 năm 2025, 21:57

Hình ảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ↑ "Space Shuttle Mission STS 132 Press Kit". NASA. tháng 5 năm 2010. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2010. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  2. ↑ Gebhardt, Chris (ngày 9 tháng 4 năm 2009). "STS-132: PRCB baselines Atlantis' mission to deliver Russia's MRM-1". NASASpaceFlight.com. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2009.
  3. 1 2 "STS-132 MCC Status Report #09". NASA. ngày 18 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2010. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  4. ↑ "STS-132 MCC Status Report #13". NASA. ngày 20 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2010. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  5. ↑ Ray, Justin (ngày 28 tháng 6 năm 2010). "Station Crew Takes Soyuz for 'Spin around the Block'". SpaceFlight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2010.
  6. ↑ "MRM-1 for ISS". NASASpaceFlight.com. ngày 11 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012.
  7. 1 2 "NASA Extends Contract With Russia's Federal Space Agency". NASA. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  8. ↑ Justin Ray (ngày 25 tháng 3 năm 2010). "Russian space module set for American launch aboard the shuttle Atlantis". Spaceflight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2010.
  9. ↑ "Mini-Research Module MRM1 At Cape For Shuttle Processing". ngày 30 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2010.
  10. ↑ Ray, Justin (ngày 15 tháng 4 năm 2010). "Russian space station module shipped to NASA's space shuttle launch pad". Spaceflight Now. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2010.
  11. ↑ Bergin, Chris (ngày 28 tháng 4 năm 2010). "STS-132: Managers Work through SSP FRR – Will Slip Launch Date If Required". NASASpaceFlight.com. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2010.
  12. ↑ "Next Station Crew Arrives at Launch Site – Space Station". blogs.nasa.gov. Phạm vi công cộng Bài viết này tích hợp văn bản từ nguồn này, vốn thuộc phạm vi công cộng.
  13. ↑ "Soyuz MS crew return". Roscosmos. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2016.
  14. 1 2 Richardson, Derek (ngày 28 tháng 7 năm 2017). "ISS crew size increases to 6 with Soyuz MS-05 docking". Spaceflight Insider. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2017.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]