Bước tới nội dung

KS-1 Komet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
KS-1 Komet/AS-1 'Kennel'
Tên lửa KS-1 được treo dưới cánh của một chiếc Tu-16 "Badger"
LoạiTên lửa không đối đất
Tên lửa diệt hạm
Nơi chế tạoLiên Xô
Lược sử hoạt động
Phục vụ1953[1]–1969 (Liên Xô)
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuấtMKB Raduga
Thông số
Khối lượng3.000 kg (6.600 lb)
Chiều dài8,29 m (27 ft 2 in)
Đường kính1,20 m (3 ft 11 in)
Đầu nổ600 kg (1.300 lb) Thuốc nổ mạnh

Động cơĐộng cơ turbojet RD-500K
Sải cánh4,77 m (15 ft 8 in)
Tầm hoạt động90 km (56 mi) lên tới 100 km[1]
Tốc độMach 0,9
Hệ thống chỉ đạoGiai đoạn đầu - Dẫn đường quán tính, giai đoạn cuối - tự dẫn radar chủ động
Nền phóngTupolev Tu-16 'Badger'
Tupolev Tu-4 (chỉ biến thể K)

Raduga KS-1 Komet (tiếng Nga: КС-1 "Комета" (Крылатый Снаряд: đạn có cánh), Ký hiệu NATO: AS-1 Kennel) là một loại tên lửa không đối đất tầm ngắn của Liên Xô, được phát triển chủ yếu cho các nhiệm vụ diệt hạm. Nó được trang bị trên hai loại máy bay là Tupolev Tu-4 và Tupolev Tu-16.

Phát triển

[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình phát triển bắt đầu vào năm 1947 cùng với một loại tên lửa phóng từ mặt đất có liên quan là SSC-2B "Samlet" (S-2 Sopka). Cả hai loại tên lửa này đều sử dụng các đặc tính khí động học được mô phỏng từ máy bay tiêm kích Mikoyan-Gurevich MiG-15 và được phát triển dưới mã hiệu "Komet" dành cho tên lửa diệt hạm.

KS-1 được thiết kế để sử dụng chống lại các tàu mặt nước. Nó trông giống như một chiếc MiG-15 được thu nhỏ, loại bỏ buồng lái và càng đáp. Phần thân chính có dạng hình điếu xì gà với cánh quét về phía sau và phần đuôi kiểu máy bay thông thường. Tên lửa được đẩy bởi một động cơ phản lực turbo Klimov RD-500K, vốn được sao chép ngược từ động cơ Rolls-Royce Derwent của Anh. Hệ thống dẫn đường bao gồm hệ thống dẫn đường quán tính (INS) trong giai đoạn bay giữa, và một radar bán chủ động trong giai đoạn cuối để điều khiển tên lửa lao vào mục tiêu. Tên lửa mang theo một đầu đạn xuyên giáp nổ mạnh (HE) nặng 600 kg.

AS-1 được cho là đã đi vào biên chế vào năm 1955, ban đầu được triển khai trên máy bay Tu-4 và sau đó là trên máy bay ném bom chiến lược Tu-16KS 'Badger-B', đặt trên hai giá treo dưới cánh. Loại tên lửa này cũng đã được xuất khẩu sang Ai Cập và Indonesia.

Các nguồn tin chỉ ra rằng hầu hết các tên lửa AS-1 "Kennel" đã được thay thế bằng loại AS-5 'Kelt' (KSR-2/Kh-11), vốn được triển khai lần đầu vào năm 1966. Những quả KS-1 cuối cùng đã được rút khỏi biên chế vào năm 1969.[2]

Quốc gia vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
Bản đồ các quốc gia từng vận hành KS-1 được đánh dấu màu đỏ

Các quốc gia từng vận hành

[sửa | sửa mã nguồn]
 Cuba
 Ai Cập
 Indonesia
 Liên Xô
Sư đoàn Không quân Ném bom hạng nặng số 116
 CHDCND Triều Tiên

Các biến thể phóng từ mặt đất

[sửa | sửa mã nguồn]
Biến thể xe phóng Sopka mặt đất

Hệ thống phòng thủ bờ biển S-2 Sopka (mã GRAU của Liên Xô là 4K87) (mã NATO: SSC-2b Samlet) là một biến thể trang bị vũ khí quy ước, sử dụng một động cơ tên lửa hỗ trợ khởi động (SPRD-15 JATO) để phóng tên lửa từ các bệ phóng cố định. Sau khi đạt được vận tốc đủ lớn, động cơ phản lực turbo AS-1 sẽ duy trì hành trình của tên lửa tới mục tiêu. Hệ thống này được thiết kế cho các đòn tấn công từ đất liền nhắm vào các mục tiêu trên biển và được triển khai rộng rãi tại các quốc gia thuộc khối Đông Âu như Ba Lan và Đông Đức trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh.[5] Một trung đoàn Sopka đã được đồn trú tại Cuba như một phần của Chiến dịch Anadyr. Các tên lửa Samlet cũng đã được triển khai tới Alexandria và khai hỏa vào các tàu của Israel trong cuộc Chiến tranh Yom Kippur. Dòng Samlet đã có thời gian phục vụ dài dù đã trở nên lạc hậu và cuối cùng bị rút khỏi kho vũ khí của Liên Xô vào năm 1980.[6]

Nhìn từ phía sau một quả FKR-1 với động cơ tên lửa SPRD-15

Tên lửa hành trình mặt trận (tiếng Nga: фронтовая крылатая ракета, biệt danh trong khối Hiệp ước Warsaw: Meteor[7]) (mã NATO: SSC-2a Salish) là một hệ thống phóng di động có khả năng mang đầu đạn hạt nhân được thiết kế cho tác chiến mặt đất. Với đầu đạn có sức công phá 12 kiloton và tầm bắn 180 km, nó đã đi vào biên chế của quân đội Liên Xô và CHDC Đức vào năm 1957.[7]

Nó mang các đầu đạn hạt nhân với đương lượng nổ từ 5 đến 14 kiloton.[cần dẫn nguồn] Tương tự như Sopka, vận tốc hành trình đạt được nhờ một động cơ tên lửa SPRD-15 gắn ngoài,[8] nhưng hệ thống FKR cho phép phóng trực tiếp từ xe vận tải, và tên lửa đã được sửa đổi để tiếp nhận các đầu đạn hạt nhân chiến thuật. Tầm bắn của nó là 150 km. Một điều mà quân đội Hoa Kỳ không hề hay biết trong cuộc Khủng hoảng tên lửa Cuba, hai trung đoàn FKR (số 561 và 584) trang bị 80 đầu đạn 14 kiloton đã được bố trí tại Cuba — một trung đoàn để tấn công căn cứ Mỹ tại Vịnh Guantanamo[9] và trung đoàn thứ hai đặt gần Havana để tiêu diệt bất kỳ đơn vị nào có ý định đổ bộ. Mặc dù một số nhà chức trách vẫn tranh cãi về việc liệu các chỉ huy địa phương có quyền sử dụng những vũ khí hạt nhân chiến trường này hay không, nhưng thực tế là các vũ khí này đã hiện diện và có lập luận cho rằng nếu bị dồn ép, binh sĩ Liên Xô có thể đã sử dụng chúng.[10][11]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "- YouTube". YouTube.
  2. ↑ Gordon, Yefim; Rigman, Vladimir (2004). Tupolev Tu-16 Badger: Versatile Soviet Long-Range Bomber. England: Midland Publishing. ISBN 1-85780-177-6.
  3. ↑ Gatland 1976, tr. 220.
  4. 1 2 Gatland 1976, tr. 231.
  5. ↑ "AS-1 KENNEL, SSC-2a SALISH, SSC-2b SAMLET", Weapons of Mass Destruction, GlobalSecurity.org, truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014
  6. ↑ "SSC-2b 'Samlet' (S-2 Sopka 4k87)", Jane's Strategic Weapon Systems, quyển 26, Surrey, UK: Jane's Information Group, 1998, Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 8 năm 2015, truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2026
  7. 1 2 Hans Gotthard Ehlert (2004). Militär, Staat und Gesellschaft in der DDR: Forschungsfelder, Ergebnisse, Perspectives. Ch. Links Verlag. tr. 193. ISBN 978-3-86153-329-0.
  8. ↑ Mamayew, A. I., "Main Designs and Modifications of Aircraft, Missiles and Consumer Goods Mastered in DMBP Production from 1951 Till 1996 and Their Technological features", History of Dubna Machine-Building Plant, Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2014, truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014
  9. ↑ Shachtman, Noah (ngày 4 tháng 6 năm 2008), "The Plan to Nuke Guantanamo Bay", Wired, Condé Nast, truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014
  10. ↑ Garthoff, Raymond L. (ngày 22 tháng 9 năm 2003), Soviet Actions and Reactions in the Cuban Missile Crisis, Brookings Institution, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2003, truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014
  11. ↑ Norris, Robert S. (ngày 24 tháng 10 năm 2012), The Cuban Missile Crisis: A Nuclear Order of Battle October/November 1962 (PDF), Woodrow Wilson International Center for Scholars, tr. 5, Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2018, truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2014