Bước tới nội dung

Rifabutin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Rifabutin
Dữ liệu lâm sàng
Tên thương mạiMycobutin[1]
AHFS/Drugs.comChuyên khảo
MedlinePlusa693009
Danh mục cho thai kỳ
  • AU: C
  • US: B (Không rủi ro trong các nghiên cứu không trên người)
    Dược đồ sử dụngby mouth (capsules)
    Mã ATC
    Tình trạng pháp lý
    Tình trạng pháp lý
    Dữ liệu dược động học
    Sinh khả dụng85%
    Liên kết protein huyết tương85%
    Chuyển hóa dược phẩmgan
    Chu kỳ bán rã sinh học28 to 62 hours (mean)
    Bài tiếtthận and fecal
    Các định danh
    Tên IUPAC
    • (9S,12E,14S,15R,16S,17R,18R,19R,20S,
      21S,22E,24Z)-6,16,18,20-tetrahydroxy-1'-
      isobutyl-14-methoxy-7,9,15,17,19,21,25-
      hepta-methyl-spiro[9,4-(epoxypentadeca
      [1,11,13]trienimino)-2H-furo-[2',3':7,8]-naphth
      [1,2-d]imidazol-2,4'-piperidin]-5,10,26-(3H,9H)-
      trione-16-acetate
    Số đăng ký CAS
    PubChem CID
    DrugBank
    ChemSpider
    Định danh thành phần duy nhất
    KEGG
    ChEBI
    ChEMBL
    ECHA InfoCard100.133.627
    Dữ liệu hóa lý
    Công thức hóa họcC46H62N4O11
    Khối lượng phân tử847.005 g/mol
    Mẫu 3D (Jmol)
    SMILES
    • CC(C)CN1CCC2(CC1)/N=C\3/c4c6C(=O)[C@@]5(C)O/C=C/[C@H](OC)[C@@H](C)[C@@H](OC(C)=O)[C@H](C)[C@H](O)[C@H](C)[C@@H](O)[C@@H](C)\C=C\C=C(\C)C(=O)N\C(=C/3/N2)C(=O)c4c(O)c(C)c6O5
    Định danh hóa học quốc tế
    • InChI=1S/C46H62N4O11/c1-22(2)21-50-18-16-46(17-19-50)48-34-31-32-39(54)28(8)42-33(31)43(56)45(10,61-42)59-20-15-30(58-11)25(5)41(60-29(9)51)27(7)38(53)26(6)37(52)23(3)13-12-14-24(4)44(57)47-36(40(32)55)35(34)49-46/h12-15,20,22-23,25-27,30,37-38,41,49,52-54H,16-19,21H2,1-11H3,(H,47,57)/b13-12+,20-15+,24-14-/t23-,25+,26+,27+,30-,37-,38+,41+,45-/m0/s1 checkY
    • Key:ATEBXHFBFRCZMA-VXTBVIBXSA-N checkY
      (kiểm chứng)

    Rifabutin (Rfb) là một kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh lao cũng như phòng ngừa và điều trị phức khuẩn Mycobacterium avium.[1] Chúng thường chỉ được kê cho những người không thể sử dụng được kháng sinh rifampin như người nhiễm HIV/AIDS đang dùng thuốc kháng retrovirus.[1] Đối với bệnh lao hoạt động, rifabutin được sử dụng kết hợp với các loại thuốc kháng khuẩn khác.[1] Đối với bệnh lao tiềm ẩn, chúng có thể được dùng một mình để đối phó với các vi khuẩn lao kháng thuốc.[1]

    Các tác dụng phụ thường gặp của thuốc bao gồm đau bụng, buồn nôn, phát ban, đau đầu và mức bạch cầu trung tính trong máu thấp.[1] Các tác dụng phụ khác có thể kể đến như đau cơ và viêm màng bồ đào.[1] Mặc dù chưa tìm thấy tác hại nào nếu sử dụng trong giai đoạn mang thai nhưng điều này vẫn chưa được nghiên cứu kỹ.[1] Rifabutin thuộc họ thuốc rifamycin.[1] Cơ chế hoạt động của kháng sinh này đến này vẫn chưa rõ ràng.[1]

    Rifabutin được tìm ra vào năm 1975 và được chấp thuận cho sử dụng y tế tại Hoa Kỳ vào năm 1992.[1] Nó nằm trong danh sách các thuốc thiết yếu của Tổ chức Y tế Thế giới, tức là nhóm các loại thuốc hiệu quả và an toàn nhất cần thiết trong một hệ thống y tế.[2] Chi phí bán buôn ở các nước đang phát triển là khoảng 30 USD một tháng.[3] Tại Hoa Kỳ, một tháng điều trị có giá hơn 200 USD.[4]

    Chú thích

    [sửa | sửa mã nguồn]
    1. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 "Rifabutin". The American Society of Health-System Pharmacists. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
    2. ↑ "WHO Model List of Essential Medicines (19th List)" (PDF). World Health Organization. tháng 4 năm 2015. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
    3. ↑ "Rifabutin". International Drug Price Indicator Guide. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2016.
    4. ↑ Hamilton, Richart (2015). Tarascon Pocket Pharmacopoeia 2015 Deluxe Lab-Coat Edition. Jones & Bartlett Learning. tr. 50. ISBN 9781284057560.